Tình hình kinh tế - xã hội
Thứ sáu 15/11/2019
Sơ kết 3 năm thực hiện Đề án XD triển khai KH thực hiện các mục tiêu của Cộng đồng VH - XH ASEAN
 
 
 
Lai châu 03 năm thực hiện Đề án XD triển khai KH thực hiện các mục tiêu của Cộng đồng VH - XH ASEAN.
 
Công tác thông tin, truyền thông
  
Tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về thực hiện các mục tiêu của Cộng động Văn hóa - Xã hội ASEAN, nhất là nội dung Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập Quốc tế; Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 13/5/2014 của Chính phủ về thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập Quốc tế; Quyết định số 161/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện các mục tiêu của Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN đến năm 2025 và Kế hoạch số 1418/KH-UBND ngày 02/8/2017 của UBND tỉnh tới cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân trên địa bàn tỉnh.
 
Thông qua sóng Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Lai Châu tuyên truyền tới cán bộ, đảng viên và Nhân dân trên địa bàn tỉnh các mục tiêu của Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN. Mỗi năm đã tuyên truyền trên sóng phát thanh, truyền hình hơn 400 tin, bài bằng tiếng phổ thông và 4 tiếng dân tộc (Thái, Mông, Dao, Hà Nhì) có nội dung về các hoạt động thực hiện các mục tiêu của Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN trên địa bàn tỉnh.
 
Kết quả thực hiện các mục tiêu Đề án 161
 
 Xây dựng cộng đồng gắn kết và mang lại lợi ích cho người dân
 
* Hoạt động khoa học và công nghệ
Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, hướng vào phát triển các sản phẩm chủ lực của địa phương cụ thể: Đã và đang triển khai 36 đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; trong đó 28 đề tài, dự án cấp tỉnh, 08 dự án cấp bộ. Đã ứng dụng một số tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp như: Kỹ thuật chế biến thức ăn gia súc từ phụ phẩm nông nghiệp bằng men vi sinh, kỹ thuật canh tác tối thiểu hướng tới sản xuất ngô bền vững trên đất dốc,... Tổ chức công nhận đề tài sáng kiến cấp tỉnh, xây dựng nhãn hiệu chứng nhận cho các sản phẩm đặc sản địa phương; hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh được duy trì, đảm bảo quyền, lợi ích người tiêu dùng và các doanh nghiệp.
 
* Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI); chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên, tỷ lệ học sinh khá giỏi năm học sau đều tăng so với năm học trước, đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng được yêu cầu, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn tăng so với năm 2015. Quy mô mạng lưới trường, lớp tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn bộ máy. Công tác đào tạo nghề cho lao động được triển khai tích cực, chất lượng đào tạo được nâng lên.
 
Trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, đã thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề gắn với thị trường lao động, hội nhập quốc tế và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Thực hiện đào tạo dạy nghề gắn với thị trường lao động, phát triển hình thức hợp đồng đào tạo nghề với các doanh nghiệp, tổ chức đào tạo theo địa chỉ, yêu cầu của doanh nghiệp..., tăng cường mối quan hệ giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong dạy nghề, phát triển nguồn nhân lực. Hàng năm tổ chức đào tạo nghề cho 5.900 lao động (đạt 100% kế hoạch năm). Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh đạt 46,33%.
 
Xây dựng cộng đồng tiến bộ, hòa nhập, bình đẳng
 
* Đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo bền vững
Công tác giảm nghèo luôn được tỉnh xác định là nhiệm vụ chính trị trọng yếu, được ưu tiên nguồn lực thực hiện, tập trung vào hệ thống cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, nhân rộng mô hình giảm nghèo. Giai đoạn 2016 - 2018, tỉnh đã triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo trên địa bàn, như: Đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ nhà ở, hỗ trợ phát triển sản xuất ... Nhờ đó người nghèo được hỗ trợ cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận tốt hơn các chính sách.
 
Đã đầu tư xây dựng cho 355 công trình thuộc các hạng mục đường giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, y tế, trường lớp học...Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo: Thực hiện hỗ trợ trên 60.000 lượt hộ về giống cây trồng, vật nuôi, giống thủy sản, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Hỗ trợ cho trên 40.000 hộ nhận giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng với tổng diện tích giao khoán trên 160.000 ha rừng.
 
Sau 3 năm thực hiện kế hoạch (2016-2018), tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, trung bình giảm 4,95%/năm, vượt so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra, ước đến cuối năm 2018 toàn tỉnh còn 24.737 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 25,55%; trong năm 2018 trên địa bàn tỉnh có 02 huyện (Than Uyên, Tân Uyên) được Chính phủ công nhận thoát nghèo. Đầu năm 2016, toàn tỉnh có 36.094 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 40,40%. Ước thực hiện năm 2018, toàn tỉnh còn 24.737 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 25,55%.
 
* Giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hôi; phát triển thị trường lao động
Nhằm giúp người lao động dễ dàng tiếp cận với thông tin thị trường lao động ngoài nước đảm bảo mức thu nhập cũng như quyền lợi, hằng năm ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ các phiên giao dịch giới thiệu việc làm và sàn giao dịch lưu động tại các địa phương; mở các lớp tuyên truyền, tư vấn xuất khẩu lao động đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu lao động về từng địa phương tuyên truyền, tư vấn đảm bảo theo quy định của pháp luật.
 
Chương trình cho vay giải quyết việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm cũng hỗ trợ cho vay trên 808 dự án, thu hút và tạo việc làm cho khoảng 3.185 lao động. Các dự án vay vốn chủ yếu là hộ cá thể và các nhóm đối tượng yếu thế (lao động là người nghèo, người khuyết tật, người dân tộc, lao động thuộc vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp,...) tạo cơ hội phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho bản thân và cộng đồng.
 
Công tác giải quyết việc làm cho lao động hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch, giai đoạn 2016-2018 bình quân mỗi năm đã giải quyết việc làm mới cho 6.924 người; tổ chức đưa được 311 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng. Tạo việc làm cho người lao động đã góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị còn 2,7%, tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn còn 10%; chuyển dịch cơ cấu lao động theo tỷ lệ giảm lao động trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp xuống còn 72,9% công nghiệp - xây dựng lên 10,4% và dịch vụ lên 16,7%.
 
* Chú trọng công tác an sinh xã hội
Đến nay trên 98% hộ gia đình chính sách người có công trên toàn tỉnh có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư nơi cư trú. Giải quyết chế độ cho 1.329 đối tượng người có công và thân nhân; chi trả trợ cấp hàng tháng cho 1.987 lượt đối tượng; tặng 2.459 suất quà cho người có công nhân dịp tết Nguyên đán và ngày thương binh - liệt sĩ; hỗ trợ xây dựng và sửa chữa 320 nhà ở cho người có công; giải quyết đầy đủ các chế độ chính sách đối với người có công và thân nhân.
 
Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội không ngừng mở rộng, bao phủ hầu hết các nhóm đối tượng từ trẻ sơ sinh đến người già; hỗ trợ không chỉ người nghèo mà còn mở rộng sang các đối tượng khác. Triển khai đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách, giải quyết kịp thời các chế độ trợ cấp đối tượng bảo trợ xã hội. Trợ cấp thường xuyên cho 23.426 lượt đối tượng; cứu trợ đột xuất dịp đói giáp hạt, sau thiên tai, bão lũ cho 294.042 lượt đối tượng.
 
Triển khai có hiệu quả chiến lược về Bình đẳng giới, nhận thức về vấn đề giới và bình đẳng giới đã có sự thay đổi; công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được chú trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; vị trí vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội đã được cải thiện; các hành vi bạo lực gia đình, xâm hại nhân phẩm người phụ nữ có chiều hướng giảm; các tập tục lạc hậu trong hôn nhân và gia đình từng bước được xoá bỏ.
 
Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em được triển khai tích cực đã trao tặng hơn 6.000 suất/ năm, trị giá hơn 1 tỷ đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; hàng năm nhân dịp Tháng hành động vì trẻ em đã tổ chức quyên góp từ các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh được gần 300 triệu đồng, ước đến hết 2018, có 81 xã, phường đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em, tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc đạt 67%, đạt 100% kế hoạch.
 
Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về phòng chống AIDS, ma túy, mại dâm tiếp tục được đẩy mạnh với nhiều hình thức đa đạng, phong phú, phù hợp với nhận thức của người dân. Phong trào toàn dân tích cực tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm phát triển sâu rộng. Tiếp tục, xây dựng và nhân rộng xã, phường, thị trấn lành mạnh không có ma túy, mại dâm lên 36/108 xã, phường. Bình quân mỗi năm đưa hơn 90 người đi cai nghiện tập trung tại Trung tâm Điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh; cai nghiện cho 200 người tại gia đình và cộng đồng; điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone cho hơn 2.000 lượt người, chiếm trên 50% người nghiện ma túy. Hoạt động điều trị triển khai tại tuyến huyện đã chủ động lồng ghép các điểm dịch vụ: tư vấn, điều trị ARV và Methadone thành mô hình 3 trong 1 từ đó đạt hiệu quả cao.
 
 Xây dựng cộng đồng bền vững
 
* Công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp được triển khai, thực hiện một cách đồng bộ với các ngành, lĩnh vực, nhằm định hướng và bố trí sử dụng đất cho các ngành, lĩnh vực trong việc sử dụng đất, giúp các cấp chính quyền quản lý, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đảm bảo đất đai được quản lý sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả, nhất là việc chuyển mục đích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ sang đất phi nông nghiệp, từng bước đưa công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đi vào nề nếp, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thực hiện thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện đúng đối tượng, đúng thẩm quyền, phù hợp với nhu cầu sử dụng đất, đảm bảo theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đã được phê duyệt.
 
Kết quả, trong 03 năm (2016-2018) đã cấp 12.878 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các tổ chức và hộ gia đình, cá nhân với diện tích 3.845,49 ha nâng tỷ lệ cấp giấy chứng nhận lên 91,77%. Phê duyệt 05 điểm mỏ khoáng sản thuộc khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản; chấm dứt hiệu lực 35 giấy phép chế biến khoáng sản; phê duyệt 04 hồ sơ trữ lượng khoáng sản; 04 đề án đóng cửa mỏ…
 
Tổ chức các hoạt động tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau vào các ngày: Ngày môi trường thế giới 5/6, Tuần lễ Quốc gia về Nước sạch và vệ sinh môi trường (29/4 - 6/5), Chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn (20/9), Ngày Đa dạng sinh học (22/5)... đã huy động và thu hút được đông đảo các tầng lớp Nhân dân tham gia hưởng ứng.
 
Chất lượng công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được nâng cao; hoạt động kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, đặc biệt là công tác bảo vệ môi trường các dự án sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường được thực hiện thường xuyên. Phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường cho 28 dự án; cấp giấy xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường cho 897 dự án, 63 giấy xác nhận đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản cho các dự án, cơ sở sản xuất kinh doanh; 19 sổ đăng ký nguồn chất thải nguy hại; 34 dự án khai thác khoáng sản đã tiến hành ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường, với tổng số tiền là 458,6 triệu đồng.
 
* Công tác bảo vệ và phát triển rừng
Công tác bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng mới gắn với việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được quan tâm thực hiện có hiệu quả, độ che phủ rừng tăng nhanh. Dự ước đến hết năm 2018 trồng rừng mới vượt kế hoạch đề ra. Ước giai đoạn 2016-2018 đạt 8.604 ha, vượt kế hoạch 25,5%, trong đó: Diện tích trồng rừng thay thế 3.919 ha, vượt kế hoạch 7%. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2018 ước đạt 49,11 %, tăng 3,7 điểm % so với năm 2015.
 
Xây dựng phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; xác định phân vùng trọng điểm cháy rừng; xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp giữa các lực lượng trong công tác PCCCR; tổ chức xây dựng và thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp giữa lực lượng Kiểm lâm, Công an, Quân đội, Bộ đội Biên phòng trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh.
 
Xây dựng cộng đồng tự lực, tự cường
  
* Tăng cường năng lực phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu
Phối hợp với các cơ quan liên quan từng bước di dời dân cư ra khỏi vùng nguy cơ cao xảy ra sạt lở đất và lũ quét, xây dựng các công trình kè chống sạt lở góp phần giảm dần thiệt hại về người, tài sản do thiên tai gây ra. Đến nay, đã hoàn thành dự án Kè chống sạt lở bờ suối Nậm Bum, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè và đang tiếp tục đề xuất dự án kè chống sạt lở khu dân cư thị trấn Nậm Nhùn trong chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh để triển khai thực hiện.
  
Công tác phòng chống lụt bão, khắc phục hậu quả thiên tai được tập trung chỉ đạo thực hiện, chủ động ứng phó với các tình huống mưa, lũ, sạt lở đất trên địa bàn tỉnh, đảm bảo thông tin kịp thời, giảm thiểu thiệt hại; tổ chức các Đoàn kiểm tra công tác phòng chống lụt bão, khắc phục hậu quả mưa lũ tại các huyện; thăm hỏi, hỗ trợ khắc phục kịp thời hậu quả thiên tai sau các đợt mưa lũ, dông, lốc. Tiếp tục rà soát các khu đô thị, các điểm dân cư, các khu, điểm tái định cư, có nguy cơ xảy ra mưa đá, lốc, lũ quét, sạt lở đất. Tổ chức di chuyển khẩn cấp các hộ nằm trong vùng nguy hiểm đến nơi an toàn.
 
Tổ chức truyền thông về khả năng ứng phó với các nguy cơ gây hại, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng ngừa rủi ro tiềm ẩn đối với cộng đồng. Hình thành ý thức chủ động phòng, tránh thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm dần thiệt hại về người, tài sản do thiên tai gây ra.
 
* Công tác khám chữa bệnh, chính sách bảo hiểm
Chủ động phòng chống dịch bệnh, không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn những năm qua; công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân cơ bản đáp ứng được nhu cầu của người dân, chất lượng một số dịch vụ kỹ thuật cao tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh từng bước được nâng lên; bình quân mỗi năm tổ chức khám chữa bệnh trên 378 nghìn lượt người. Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, y tế dự phòng được quan tâm thực hiện, tình hình dịch bệnh cơ bản ổn định, một số bệnh truyền nhiễm giảm so với cùng kỳ năm trước. Khám chữa bệnh cho gần 900 nghìn lượt người, đạt 81% kế hoạch.
 
Hàng năm có trên 410 nghìn người tham gia BHXH, BHYT; trên 24 nghìn người tham gia BHTN, giải quyết trên 400 lượt người hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp. Các chính sách bảo hiểm y tế được triển khai tích cực, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn tỉnh cao hơn so với mức trung bình của cả nước, ước đạt 94,5%. Riêng chính sách bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người có công đã đạt tỷ lệ bao phủ 100%.
 
Xây dựng cộng đồng năng động
 
Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc được chú trọng; chất lượng biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp được nâng lên; phong trào văn hóa, thể thao phát triển mạnh thu hút đông đảo người dân tham gia tập luyện. Tổ chức thành công Hội diễn Nghệ thuật quần chúng các xã Nông thôn mới tỉnh Lai Châu lần thứ I, năm 2018. Cử đoàn nghệ nhân dân tộc Hà Nhì tham gia “Ngày hội Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tại Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam; thành lập đoàn nghệ nhân các dân tộc Cống, Mảng, La Hủ, Lự tham gia Hội nghị tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Quyết định số 1668/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam; thành lập đoàn tham gia Liên hoan hát Then, đàn Tính các dân tộc Tày - Nùng - Thái lần thứ VI, năm 2018 tại tỉnh Hà Giang; cử Đoàn Nghệ thuật tỉnh tham gia Lễ hội Té nước tổ chức tại xã Mường Là, huyện Kim Bình, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc…
 
Triển khai các hoạt động hưởng ứng năm du lịch Quốc gia Lào Cai - Tây Bắc, tham gia và quảng bá, xúc tiến tại các sự kiện diễn ra ở các thị trường trọng điểm như: Tỉnh Điện Biên, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội…Hàng năm, thực hiện xuất bản định kỳ ấn phẩm Du lịch Lai Châu phát hành trên toàn quốc; in nối bản tập gấp, bản đồ, sách ảnh phục vụ công tác xúc tiến, quảng bá.
 
Tiếp tục phát huy hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, ước đến hết năm 2018 có 82% hộ gia đình, 63% thôn, bản, khu phố, 93% cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hóa.
 
 Kết quả đạt được
 
Sau 3 năm thực hiện các mục tiêu văn hóa, giáo dục, môi trường, y tế, an sinh xã hội của tỉnh đã đạt được một số kết quả nổi bật như:
 
Người nghèo, người khuyết tật, người dễ bị tổn thương được hỗ trợ cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận tốt hơn các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng, đời sống được nâng lên, các nhu cầu xã hội cơ bản bước đầu được đáp ứng.
 
Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm đã tạo điều kiện cho người lao động tự tạo được việc làm hoặc tìm kiếm được việc làm có thu nhập ổn định cho bản thân và gia đình.
 
Các chính sách an sinh xã hội được được triển khai thực hiện đồng bộ, kịp thời, đầy đủ giúp cho các đối tượng ổn định cuộc sống, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, góp phần củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.
 
Chất lượng giáo dục và đào tạo từng bước được nâng lên, cơ sở vật chất phục vụ công tác dạy và học tiếp tục được đầu tư, nâng cấp. Công tác y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe Nhân dân tiếp tục được quan tâm, trong năm qua không có dịch bệnh lớn xảy ra.
 
Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được thực hiện tốt, tỷ lệ che phủ rừng tiếp tục tăng; các hoạt động thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp được tích cực triển khai. Công tác phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn được các cấp, các ngành quan tâm; chủ động và tích cực thực hiện các biện pháp hỗ trợ, khắc phục hậu quả các đợt thiên tai gây ra.
 
Các hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai sâu rộng, thiết thực, gắn với xây dựng nông thôn mới.
 
Khó khăn, tồn tại
  
Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục ở địa bàn vùng sâu, vùng xa còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu dạy và học; số lượng phòng học tạm, phòng học nhờ còn nhiều. Cơ sở vật chất phục vụ khám chữa bệnh còn hạn chế, đặc biệt là tuyến cơ sở; thiếu bác sỹ có trình độ chuyên môn cao; số bác sỹ bỏ việc ngày càng tăng.
 
Dạy nghề ở một số địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, cơ cấu ngành nghề, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn thấp, chất lượng chưa cao. Đời sống một bộ phần đồng bào dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo cao. Các hoạt động văn hóa, thể thao chưa có nhiều đổi mới.
 
Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư còn làm phát sinh khiếu kiện của người có đất bị thu hồi. Công tác quản lý đất đai tại một số địa phương còn lỏng lẻo dẫn đến tình trạng sử dụng đất sai mục đích, lấn chiếm, tranh chấp, tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Công tác quản lý đất đai, khoáng sản, môi trường tại một số huyện chưa chặt chẽ, vẫn còn tình trạng vi phạm trong sử dụng đất, khai thác trái phép khoáng sản.
 
Công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp còn hạn chế; việc xã hội hoá phát triển khoa học, công nghệ còn thấp, chủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân sách nhà nước.
 
Nhiều doanh nghiệp tại địa phương tiếp tục nợ BHXH, BHYT với thời gian dài, số nợ lớn vẫn đang tồn tại chưa thể khắc phục.Đa số lao động phi chính thức chưa tham gia BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.
 
 
Mục tiêu và giải pháp trọng tâm những năm tiếp theo.
 
Thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển văn hóa, xã hội, giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân. Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái; phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu. Đa dạng hóa hình thức quảng bá những tiềm năng, lợi thế về văn hóa, du lịch tỉnh Lai Châu. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, CCVC phù hợp với vị trí việc làm, đáp ứng yêu cầu thực thi công vụ.
  
Tăng cường tổ chức tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức và người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số biết và thực hiện về Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN và các mục tiêu của Kế hoạch 1418/KH-UBND ngày 02/8/2017 của UBND tỉnh.
  
 Đổi mới công tác quản lý Nhà nước trong thực hiện các chế độ, chính sách cho người dân. Thực hiện có hiệu quả phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và thực hiện tốt chính sách xã hội. Khuyến khích người dân tự vươn lên ổn định cuộc sống góp phần vào việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
  
Rà soát, lồng ghép và tổ chức thực hiện các nội dung của Kế hoạch thực hiện mục tiêu Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN đến năm 2025 trong kế hoạch, chương trình hàng năm của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố.
  
 Kiện toàn cơ cấu tổ chức và cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp; nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, kiến thức về hội nhập Quốc tế, đào tạo bồi dưỡng về ngoại ngữ, tin học cho cán bộ, công chức, viên chức nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi để đáp ứng nhu cầu cho quá trình hội nhập của tỉnh.
  
Đào tạo, nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập thực hiện chính sách văn hóa, xã hội. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong việc thực hiện các chính sách cho người dân đảm bảo mục tiêu phục vụ Nhân dân.
 
Tăng cường huy động nguồn lực, nhân lực thực hiện tốt chính sách văn hóa, xã hội. Đẩy mạnh các hoạt động nhằm vận động, thu hút tối đa nguồn lực từ các doanh nghiệp tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để triển khai thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ về thực hiện chính sách cho người dân hướng đến xây dựng Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân hỗ trợ nguồn lực cho tỉnh để thực hiện Kế hoạch.
  
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu về các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, thông tin, khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và thực hiện các chế độ, chính sách an sinh xã hội cho người dân; đảm bảo hướng vào người dân, phục vụ người dân.
 
Huy Dương
 print   send mail
Các tin đã đăng
  • Tiếp nhận công trình điện được đầu tư bằng vốn NN theo Quyết định số 41/2017/QĐ-TTg ngày 15/9/2017   (14/08/2018)
  • Triển khai thực hiện Dự án 513 trên địa bàn tỉnh Lai Châu   (13/08/2018)
  • Bốn năm thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2014 - 2017, nhiệm vụ giai đoạn 2018-2020   (09/08/2018)
  • Đánh giá giữa kỳ thực hiện các chương trình MTQG giai đoạn 2016 - 2020   (03/08/2018)
  • Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2017 của doanh nghiệp nhà nước và DN có vốn Nhà nước   (01/08/2018)
  • Đánh giá 1 năm triển khai thực hiện Nghị định số 68/2017/NĐ-CP của Chính phủ   (24/07/2018)
  • Lựa chọn doanh nghiệp tham gia “Hội chợ Hàng Việt – Đà Nẵng 2018”   (24/07/2018)
  • Đẩy mạnh thực hiện thanh toán kế hoạch vốn đầu tư công năm 2018   (17/07/2018)
  • Thực hiện kiểm soát kê đơn thuốc và bán thuốc kê đơn trên địa bàn tỉnh   (17/07/2018)
  • Phát triển KT-XH, đảm bảo QP-AN 6 tháng đầu năm và một số nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2018   (10/07/2018)
  • Điều chỉnh kế hoạch vốn dự án bồi thường, di dân, TĐC thủy điện Lai Châu   (09/07/2018)
  • Phong trào thi đua, công tác khen thưởng 6 tháng đầu năm 2018   (06/07/2018)
  • Đánh giá giữa kỳ tình hình thực hiện CT 135 giai đoạn 2016 - 2020 và chuẩn bị kế hoạch năm 2019   (05/07/2018)
  • Kết quả hoạt động khoa học và công nghệ năm 2017 ước thực hiện năm 2018, kế hoạch hoạt động năm 2019   (05/07/2018)
  • Giải ngân vốn di dân, tái định cư Dự án thuỷ điện Huội Quảng, Bản Chát   (03/07/2018)